Bước sang năm 2026, hệ thống chính sách an sinh xã hội và tiền lương tại Việt Nam ghi nhận nhiều thay đổi mang tính bước ngoặt. Những điều chỉnh này không chỉ tác động đến mức đóng hàng tháng của doanh nghiệp và người lao động mà còn trực tiếp thay đổi quyền lợi về lương hưu sau này. Dưới đây là hệ thống thông tin chi tiết dành cho quý độc giả và khách hàng.

1. Lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu năm 2026

Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Nghị định 135/2020/NĐ-CP, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường vào năm 2026 được xác định cụ thể như sau:

2. Thay đổi về mức đóng BHXH bắt buộc tối thiểu và tối đa

Mức căn cứ đóng BHXH năm 2026 có sự biến động lớn do việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng và mức tham chiếu.

Mức đóng tối thiểu

Theo khoản 2 Điều 6 Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017, tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc tối thiểu không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng. Với việc áp dụng Nghị định 293/2025/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng năm 2026 tăng lên, kéo theo mức đóng BHXH tối thiểu tăng tương ứng:

Vùng
Mức lương tối thiểu tháng (VNĐ)
Mức lương tối thiểu giờ (VNĐ)
Vùng I
5.310.000
25.500
Vùng II
4.730.000
22.700
Vùng III
4.140.000
20.000
Vùng IV
3.700.000
17.800

 

►Mức đóng tối đa (Mức trần)

Tại điểm đ khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, mức tiền lương cao nhất để đóng BHXH bắt buộc bằng 20 lần mức tham chiếu. Trong đó, mức tham chiếu không thấp hơn mức lương cơ sở.

Dựa trên Điều 3 Nghị định 73/2024/NĐ-CP, mức lương cơ sở năm 2026 là 2.340.000 đồng/tháng. Do đó, mức trần đóng BHXH được xác định như sau:

2.340.000 * 20 = 46.800.000 đồng/tháng.

 

Ví dụ:

3. Công thức tính mức lương hưu được hưởng như thế nào?

Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (Điều 66, 72), được bổ sung bởi Luật Nhà giáo 2025Nghị định 158/2025/NĐ-CP, công thức tính mức lương hưu được quy định:

Lương hưu hằng tháng = Tỷ lệ hưởng lương hưu * Mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH

TỶ LỆ HƯỞNG LƯƠNG HƯU THEO SỐ NĂM ĐÓNG BHXH:

Số năm đóng bảo hiểm xã hội
Lao động nữ
Lao động nam
15 năm
45%
40%
16 năm
47%
41%
17 năm
49%
42%
18 năm
51%
43%
19 năm
53%
44%
20 năm
55%
45%
21 năm
57%
47%
22 năm
59%
49%
23 năm
61%
51%
24 năm
63%
53%
25 năm
65%
55%
26 năm
67%
57%
27 năm
69%
59%
28 năm
71%
61%
29 năm
73%
63%
30 năm
75%
65%
31 năm
 
67%
32 năm
 
69%
33 năm
 
71%
34 năm
 
73%
35 năm
 
75%

 

***Cách tính mức bình quân tiền lương đóng BHXH để hưởng lương hưu, trợ cấp một lần theo Luật BHXH năm 2024
Nguyên tắc chung: Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để tính lương hưu và trợ cấp một lần được quy định tại Điều 72 của Luật BHXH năm 2024 và được chi tiết hóa tại Điều 15 của Nghị định 158/2025/NĐ-CP. Mức này cũng được sử dụng để tính hưởng BHXH một lần, trợ cấp tuất một lần và trợ cấp hằng tháng cho người không đủ điều kiện hưởng lương hưu.

► Cách tính đối với người lao động theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định

♦ Trường hợp có toàn bộ thời gian đóng BHXH theo chế độ lương Nhà nước:

Việc tính bình quân tiền lương sẽ dựa trên số năm đóng BHXH cuối cùng trước khi nghỉ hưu, theo một lộ trình cụ thể:

  • Tham gia BHXH trước 01/01/1995: Tính bình quân của 05 năm cuối.
  • Tham gia từ 01/01/1995 đến 31/12/2000: Tính bình quân của 06 năm cuối.
  • Tham gia từ 01/01/2001 đến 31/12/2006: Tính bình quân của 08 năm cuối.
  • Tham gia từ 01/01/2007 đến 31/12/2015: Tính bình quân của 10 năm cuối.
  • Tham gia từ 01/01/2016 đến 31/12/2019: Tính bình quân của 15 năm cuối.
  • Tham gia từ 01/01/2020 đến 31/12/2024: Tính bình quân của 20 năm cuối.
  • Tham gia từ 01/01/2025 trở đi: Tính bình quân của toàn bộ thời gian đóng BHXH.

♦ Các trường hợp đặc biệt:

  • Làm công việc nặng nhọc, độc hại: Người có đủ 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên, sau đó chuyển sang công việc khác có mức lương đóng BHXH thấp hơn, sẽ được lấy mức lương của số năm làm công việc nặng nhọc, độc hại (tương ứng với số năm tính bình quân quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật) để tính bình quân.
  • Sĩ quan, quân nhân chuyển ngành: Nếu mức lương đóng BHXH của những năm cuối trước khi nghỉ hưu thấp hơn so với những năm cuối trước khi chuyển ngành, họ sẽ được lấy tiền lương làm căn cứ đóng BHXH của những năm cuối trước khi chuyển ngành để tính mức bình quân.
  • Có phụ cấp thâm niên nghề: Việc tính toán sẽ phức tạp hơn, tùy thuộc vào việc những năm cuối để tính bình quân có bao gồm phụ cấp thâm niên hay không, đảm bảo quyền lợi cho người lao động.
  • Thời gian công tác ở cấp xã: Thời gian công tác ở cấp xã đã được tính hưởng BHXH, thời gian đóng BHXH theo Nghị định số 09/1998/NĐ-CP, và thời gian đóng của người hoạt động không chuyên trách cấp xã sẽ được tính là thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định.
  • Thời gian công tác trước 01/01/1995 không hưởng lương: Nếu người lao động có thời gian công tác trước năm 1995 mà không được hưởng tiền lương, sinh hoạt phí (được trả thù lao bằng công điểm hoặc lương thực như giáo viên mầm non, chủ nhiệm hợp tác xã có quy mô toàn xã,..), thì thời gian này sẽ không được tính vào mức bình quân tiền lương.

► Cách tính đối với người lao động theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định: Đối với nhóm đối tượng này, mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH sẽ được tính trên toàn bộ thời gian đóng BHXH.

► Cách tính đối với người có cả hai giai đoạn đóng BHXH: Người lao động vừa có thời gian đóng BHXH theo chế độ lương Nhà nước, vừa có thời gian đóng theo chế độ do người sử dụng lao động quyết định, thì sẽ tính bình quân tiền lương chung của các thời gian. Trong đó, phần thời gian đóng theo chế độ lương Nhà nước sẽ được tính bình quân theo quy định nêu trên.

► Điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH

Để đảm bảo giá trị của tiền lương đã đóng không bị trượt giá theo thời gian, pháp luật quy định phải điều chỉnh tiền lương trước khi tính bình quân.

Đối với khu vực Nhà nước: Người tham gia BHXH trước 01/01/2016, tiền lương đã đóng được điều chỉnh theo "mức tham chiếu" tại thời điểm hưởng chế độ. Người tham gia từ 01/01/2016 trở đi sẽ được điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ.

Đối với khu vực ngoài Nhà nước: Tiền lương đã đóng BHXH được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá tiêu dùng của từng thời kỳ theo quy định của Chính phủ. Hệ số điều chỉnh này được BHXH Việt Nam xác định và công khai hằng năm dựa trên số liệu do Cục Thống kê, Bộ Tài chính cung cấp. (Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam)

Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên