Doanh nghiệp có thể bị phạt đến 100 triệu đồng nếu không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho những ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng của người lao động. Tuy nhiên, mức phạt này chỉ phát sinh khi đáp ứng các điều kiện theo quy định và được xác định dựa trên số lượng người lao động bị vi phạm.
Đáng lưu ý, không phải mọi trường hợp người lao động còn ngày phép năm đều bắt buộc phải quy đổi thành tiền. Nghĩa vụ thanh toán được đề cập trong bài viết gắn với trường hợp người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm mà chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm.
1. Khi nào doanh nghiệp phải trả tiền phép năm chưa nghỉ?
Khoản 3 Điều 113 Bộ luật Lao động 2019 quy định:
“Trường hợp do thôi việc, bị mất việc làm mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương cho những ngày chưa nghỉ.”
Tương ứng, khoản 2 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt đối với người sử dụng lao động có hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương của người lao động trong những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm.
Như vậy, nghĩa vụ thanh toán tiền phép năm chưa nghỉ trong trường hợp này gắn với hai nhóm:
- Người lao động thôi việc nhưng còn ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng;
- Người lao động bị mất việc làm nhưng chưa nghỉ hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm.
Do đó, nhận định “mọi ngày phép năm chưa nghỉ đều phải được quy đổi thành tiền” là chưa phản ánh đầy đủ điều kiện áp dụng.
Để xác định nghĩa vụ thanh toán, cần đối chiếu ba yếu tố:
- Người lao động có thuộc trường hợp thôi việc hoặc bị mất việc làm hay không;
- Người lao động còn bao nhiêu ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng;
- Người sử dụng lao động đã thanh toán đầy đủ tiền lương tương ứng với những ngày chưa nghỉ hay chưa.
Nếu người lao động vẫn đang làm việc và chỉ chưa sử dụng hết số ngày nghỉ hằng năm thì chưa thể chỉ căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP để kết luận doanh nghiệp bắt buộc phải quy đổi toàn bộ số ngày phép còn lại thành tiền.
2. Tiền lương trả cho những ngày phép chưa nghỉ được xác định thế nào?
Theo khoản 3 Điều 67 Nghị định 145/2020/NĐ-CP:
“Tiền lương làm căn cứ trả cho người lao động những ngày chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm theo khoản 3 Điều 113 của Bộ luật Lao động là tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề tháng người lao động thôi việc, bị mất việc làm.”
Như vậy, khi xác định khoản tiền phải thanh toán, doanh nghiệp cần đối chiếu:
- Số ngày nghỉ hằng năm người lao động được hưởng;
- Số ngày nghỉ thực tế đã sử dụng;
- Số ngày nghỉ còn lại tại thời điểm thôi việc hoặc bị mất việc làm;
- Tiền lương theo hợp đồng lao động của tháng trước liền kề tháng người lao động thôi việc hoặc bị mất việc làm.

3. Không trả tiền phép năm, doanh nghiệp bị phạt bao nhiêu?
Khoản 2 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định mức phạt đối với hành vi không trả hoặc trả không đủ tiền lương cho những ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng theo số lượng người lao động bị vi phạm.
Mức phạt quy định tại Điều 23 đối với cá nhân từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng.
Theo khoản 1 Điều 7 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Theo đó:
Số người lao động bị vi phạm | Mức phạt đối với cá nhân | Mức phạt đối với tổ chức, doanh nghiệp |
Từ 01 – 10 người | 05 – 10 triệu đồng | 10 – 20 triệu đồng |
Từ 11 – 50 người | 10 – 20 triệu đồng | 20 – 40 triệu đồng |
Từ 51 – 100 người | 20 – 30 triệu đồng | 40 – 60 triệu đồng |
Từ 101 – 300 người | 30 – 40 triệu đồng | 60 – 80 triệu đồng |
Từ 301 người trở lên | 40 – 50 triệu đồng | 80 – 100 triệu đồng |
4. Ngoài tiền phạt, doanh nghiệp còn phải trả tiền lương thiếu và tiền lãi
Bên cạnh tiền phạt hành chính, điểm a khoản 5 Điều 23 Nghị định 283/2026/NĐ-CP còn quy định biện pháp khắc phục hậu quả:
“Buộc người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cộng với khoản tiền lãi của số tiền lương chậm trả, trả thiếu cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều này.”
Theo đó, nếu thuộc trường hợp vi phạm, người sử dụng lao động có thể đồng thời phải:
- Nộp tiền phạt vi phạm hành chính;
- Trả đủ tiền lương của những ngày nghỉ hằng năm chưa thanh toán hoặc còn thiếu;
- Trả tiền lãi trên số tiền chậm trả hoặc trả thiếu.
Khoản tiền lãi được xác định theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt.
Như vậy, rủi ro tài chính đối với hành vi vi phạm không chỉ giới hạn ở tiền phạt hành chính mà còn bao gồm nghĩa vụ thanh toán số tiền còn thiếu và khoản lãi phát sinh.
►Căn cứ pháp lý
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, đặc biệt khoản 3 Điều 113 về thanh toán tiền lương đối với những ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng khi người lao động thôi việc, bị mất việc làm.
- Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020, đặc biệt khoản 3 Điều 67 về tiền lương làm căn cứ thanh toán những ngày nghỉ hằng năm chưa sử dụng.
- Nghị định 283/2026/NĐ-CP ngày 15/07/2026, có hiệu lực từ ngày 10/09/2026, đặc biệt Điều 7 và Điều 23 về mức xử phạt, chủ thể bị xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả.
